Núi lửa Nâm B'lang
Núi lửa Nâm B’lang

Trong kho tàng sử thi, truyện cổ của dân tộc M’nông preh vùng Buôn Choah, huyện Krông Nô còn nhắc đến các cây thần, trong đó có hai loại cây thần Tơm Chri (cây Tổ tiên) và B’lang (cây gòng, cây gòn, cây bông gòn) là vị thần luôn che chở, bảo vệ con người, bon làng.

Tương truyền rằng, vào thời bấy giờ có một bộ tộc tên là Lao Bô (ma rừng) chuyên ăn thịt người, gặp người nam thì bắt về làm lính còn gặp phụ nữ thì ăn thịt, khiến cho phụ nữ trong vùng bị chúng ăn thịt gần hết. Bộ tộc Lao Bô rất sợ thần cây Plang, trên đỉnh núi lửa Nâm B’lang lại có cây B’lang rất lớn và nhiều cây cổ thụ hàng triệu năm tuổi như Tơm Chri (cây đa), Krăk Ndan Trôk (cây sồi ba cạnh)… Các vị thần B’lang cư ngụ nhiều nhất trên đỉnh núi, trước các cửa hang sẵn sàng che chở, bao bọc cho dân làng thoát khỏi sự lùng bắt của những con ma rừng này, cuộc sống của bon làng chuyển hết vào trong hang có thần Plang che chắn nên được bình yên. Nhờ đó, vị thế và uy tín của thần Plang càng ngày càng lớn và càng thu phục được hầu hết muôn loài chim thú, cây cỏ và con người. Được vài năm sinh sống giữa các thần núi xảy ra chiến tranh: Núi Chư R’luh, núi Nâm Kar, núi Nâm Ler, núi Nâm Bjiang, núi Rdŭch, núi Rlŭh Glĕh đánh nhau với núi Nâm Nung, núi Nâm Nung có thần Tơm Chri che chở, không lung lay và đánh thắng các núi, hiên ngang sừng sững. Còn tất cả các núi khác bị vỡ nát, phân chia rải rác ra nhiều nơi thành những ngọn đồi, núi nhỏ bao quanh núi Nâm Nung. Núi Chư R’luh thua trận bị cô lập một mình giữa một vùng rộng lớn chỉ có mỗi thần Plang. Núi Nâm Nung vững vàng, cao chót vót và trở thành “Vua Núi”. Vì nể phục thần Nâm Nung mà nữ thần Nâm Kar đã trở thành vợ của Nâm Nung.

Với ý nghĩa lịch sử đầy tính nhân văn được truyền tụng trong từng câu hát sử thi và trong những câu chuyện cổ, chứng kiến bao nhiêu đổi thay nhưng cây B’lang vẫn sinh tồn mạnh mẽ nên những cư dân sống trên vùng cao nguyên rất tôn thờ. Bên cạnh họ còn kể con cháu nghe có rất nhiều vị thần hùng mạnh trợ giúp, giữ cho bon làng và chim muông cây cỏ có cuộc sống bình yên:

“Yôk Nâm Nung dăk năr Klăng pa

Yôk Nâm Bjang Dăk lang pang ti

Yôk Nâm Jrăy Brih dăk ray dưng PJăng

Yôk Đăng Dong dăk bhŭng bu dăm

Yôk Ding Klo Jŏp dăk mo lŏl”

Tạm dịch:

“Nâm Nung như ông là thân

Nâm Bjiang như lòng bàn tay

Nâm Trăh như rổ đựng cơm.

Nâm Dăng như chàng trai trẻ.

Jok Dinh Klo là nguồn nước không bao giờ cạn”.

Và cũng từ đó, theo phong tục truyền thống của người M’nông trong lễ cúng rào bon (Tâm plang bon) và nhiều nghi lễ khác, người ta lấy cây Blang để trồng làm cột lễ, sau khi làm lễ xong, cây cột lễ này sẽ mọc lên cây Blang che chở cho bon làng, thành hàng rào ngăn chặn những thế lực đen tối, trừ dịch họa, ngăn thú dữ. Trải qua nhiều thăng trầm, tác động của xã hội hiện đại đã ít nhiều xóa bỏ dần các nghi lễ, lễ hội của người M’nông nhưng dân tộc M’nông Preh ở vùng Buôn Choah vẫn còn lưu giữ, bảo tồn nghi lễ Tâm B’lang Brang Bon. Thời gian tổ chức thường ba năm một lần nhưng có thể xê dịch dài hơn bên cạnh sự hỗ trợ tích cực của chính quyền địa phương. Bởi vì người M’nông Preh vùng núi lửa Nâm B’lang nói riêng, các vùng khác nói chung rất coi trọng cây B’lang bởi họ tin rằng mỗi cây B’lang đều có thần linh cư ngụ, đã giúp bon làng thoát khỏi tay bộ tộc Lao Bô, được sống yên ổn sinh con đàn cháu đống tỏa đi khắp nơi sinh sống. Bảo vệ cây B’lang chính là bảo vệ con người nên tháng ngày trôi qua cây Plang mọc lên thành rừng và họ đặt vùng núi lửa này là Nâm B’lang (vùng Nâm B’lang hay vùng của cây B’lang).

Vào tầm tháng giêng đến tháng 4 hằng năm đi qua rất dễ dàng nhìn thấy trên thân thẳng đứng, cao vút những chùm hoa đỏ chót nở rực rỡ một vùng núi lửa Nâm B’lang. Câu chuyện truyền thuyết về núi lửa Nâm B’lang mà người M’nông thường kể cho con cháu để nhắc nhở, giáo dục về việc không được tự ý xâm hại đến cây rừng, tài nguyên thiên nhiên khi chưa được cho phép nếu ai vi phạm, không xin phép thần B’lang mà tự ý chặt sẽ bị thần phạt đến chết.